TinhTe/Minh Ngô - Hành trình hơn 40 năm phát triển của Mac
KhiMacra mắt vào năm 1984, nó đã giới thiệu một cách sử dụng máy tính hoàn toàn mới:trực quan, dễ hiểu và dễ tiếp cận. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm của Apple, chúng ta nhìn lại cả hành trình ấy để xem Apple thay đổi cách loài người tương tác với máy tính như thế nào.
Apple Computer Company được thành lập vào tháng 4 năm 1976, và cùng với các đối thủ như Commodore và Tandy, họ đã góp phần khởi động cuộc cách mạng máy tính cá nhân ngay trong năm sau đó. Khi đó, Atari cũng nhanh chóng tham gia với các mẫu máy tính gia đình 400 và 800, trong khi những nhà sản xuất “bộ ba” đầu tiên tiếp tục cải tiến thiết kế của mình. Đến năm 1981, IBM giới thiệu chiếc IBM PC với kiến trúc mở, 16-bit. Khi kết hợp với phần mềm Lotus 1-2-3, nó nhanh chóng trở nên phổ biến trong môi trường doanh nghiệp ở mọi quy mô. Năm 1982, tạp chíPC Magazinera mắt số đầu tiên, nhắm đến cộng đồng người dùng IBM PC.
Tuy nhiên, chínhMacintoshmới là thứ định hình hướng đi của máy tính cá nhân trong nhiều thập kỷ tiếp theo. Dù Apple không phát minh ra giao diện đồ họa, họ là người đầu tiên đưa nó đến với người dùng phổ thông qua Mac. Microsoft và IBM nhanh chóng học theo, ban đầu là những bản sao khá vụng về, rồi dần nghiêm túc hơn với Windows 3.0 (1990) và OS/2 2.0 (1992). Phần còn lại, có lẽ anh em đều biết, đã trở thành lịch sử. Bài viết này mình muốn tập trung vào Macintosh, một dòng sản phẩm đã đã tồn tại hơn 4 thập kỷ.
Những năm đầu (1984–1989)
Sau khi bán ra chiếc Lisa mang tính tiên phong nhưng quá đắt đỏ, Apple giới thiệu Macintosh 128K vào năm 1984, trước tiên là bằng một quảng cáo Super Bowl huyền thoại lấy cảm hứng từ George Orwell, và hai ngày sau là buổi ra mắt chính thức tại Cupertino, California. Chỉ trong một bài trình diễn kéo dài 5 phút, Mac được giới thiệu cònSteve Jobsđã đặt nền móng cho mọi sự kiện Apple về sau.
Vào thời điểm đó, Mac được thiết kế thông minh và trang bị hợp lý,ngoại trừ bộ nhớ RAM 128KB cực kỳ hạn chế, ngay cả so với tiêu chuẩn thời đó. Máy toát lên sự đơn giản nhưng tinh tế. Giao diện đồ họa, chuột, cùng màn hình độ phân giải 512x342 pixel, được coi là khá sắc nét lúc bấy giờ, với thiết kế để hiển thị giống như bản in thực tế, giúp người dùng có thể bắt đầu làm việc ngay khi mở hộp.
Mac thậm chí còn đi kèm đầy đủ phần mềm cần thiết để tạo nội dung, bao gồm trình soạn thảo văn bản và phần mềm vẽ. Dĩ nhiên, đồ họa còn rất sơ khai so với hiện nay, và người dùng phải chờ khá lâu vì chương trình chạy từ đĩa mềm. Nhưng người dùng hoàn toàn có thể làm công việc xuất bản thực sự, và nhờ tay cầm tích hợp. Ngoài ra, Mac cũng rất dễ mang theo.
Các phiên bản sau như 512K, Plus và SE được nâng cấp bộ nhớ và phần cứng, trong đó SE bổ sung ổ cứng bên trong. Nhờ thiết kế “tất cả trong một” với màn hình đơn sắc 9 inch, cùng máy in Apple LaserWriter và phần mềm Aldus PageMaker, kỷ nguyên xuất bản desktop tại nhà và xử lý văn bản WYSIWYG chính thức ra đời. Tuy nhiên, những thành công đó không đến đủ nhanh để cứu chiếc “ghế” của Jobs. Năm 1985, CEO John Sculley sa thải ông sau cuộc đấu quyền lực nội bộ và doanh số ban đầu của Macintosh không như kỳ vọng.
Trong những năm tiếp theo, Apple tiếp tục phát triển hệ điều hành, đạt đỉnh vào cuối thập niên với System 6, hỗ trợ đa nhiệm, một thứ mà PC lúc đó vẫn chưa làm được tốt. Trong khi đó, máy tính gia đình bắt đầu chuyển sang kiến trúc 16-bit, chủ yếu nhờ Commodore Amiga và Atari ST. Dù vậy, Mac vẫn giữ vị thế hàng đầu, cân bằng giữa thị trường gia đình và doanh nghiệp, điều mà Commodore, Atari và IBM phần lớn không làm được. Tuy nhiên, IBM PC cũng ngày càng mạnh hơn với chip 80386, đồ họa VGA và các card âm thanh đầu tiên như Adlib và SoundBlaster.
Thời kỳ PowerPC và dải sản phẩm Mac nhái (1990–1997)
Đến năm 1990, Apple mở rộng dòng Mac với nhiều phân khúc: giá rẻ, tầm trung, desktop màu cơ bản, cùng các dòng cao cấp Centris và Quadra. Nhiều mẫu Mac bắt đầu mang dáng dấp PC truyền thống với màn hình rời và hỗ trợ màu sắc. Apple cũng đổi tên Mac SE thành Classic để giảm giá, trong khi SE/30 với CPU 68030 nhanh hơn trở thành lựa chọn phổ biến cho dân xuất bản chuyên nghiệp.
Bước sang thập niên 90, Apple ra mắt dòng PowerPC mạnh mẽ kết hợp với System 7.1.2 32-bit. Tuy nhiên, dưới thời Michael Spindler và Gil Amelio, Apple dần mất phương hướng. Họ chia dòng Mac thành 6 nhánh khác nhau, bao gồm LC, Performa, Centris, Quadra, Power Mac và Classic, với hàng chục biến thể gần như giống nhau, chỉ khác thị trường mục tiêu.
Chưa dừng lại, Apple còn cấp phép Mac OS cho các hãng sản xuất clone như Power Computing và Radius. Điều này làm loãng thương hiệu Mac mà Apple xây dựng. Tuy nhiên, nó lại cho thấy là không chỉ Apple mới làm ra được một chiếc máy Mac tốt ở thời điểm đó, hệ quả là người dùng mua Mac nhái thay vì Mac chính hãng, khiến doanh số của Mac thật bị ảnh hưởng, thị phần không được mở rộng. Giới phân tích bắt đầu coi Apple là một công ty đang suy thoái dài hạn.
Sự trở lại của Steve Jobs: iMac, G3–G5 (1998–2004)
Apple mua lạiNeXTnăm 1996, đưa Jobs trở lại nắm quyền vào 1997. Ngoài ra, Microsoft cũng đầu tư 150 triệu USD vào Apple để hỗ trợ phát triển phần mềm. Khi thông tin này được công bố, nhiều fan Mac đã la ó Bill Gates vì lo ngại ông sẽ biến Mac thành PC Windows. Tuy nhiên, trong thời gian này, Apple cải tiến dòng PowerBook và đạt doanh số tốt dù giá cao. Nhưng bước ngoặt thực sự làiMacG3màu xanh Bondi, ra mắt năm 1998, sản phẩm đầu tiên mang đậm dấu ấn Jobs sau khi trở lại.
iMac G3 được thiết kế bởi Jony Ive, cô đọng tinh thần Macintosh trong một thiết kế “tất cả trong một”, đồng thời loại bỏ ổ đĩa mềm, một quyết định táo bạo thời điểm đó. Các phiên bản màu sắc “kẹo ngọt” sau đó ra mắt cùng iBook hỗ trợ Wi-Fi 802.11b. Ngoài ra, Apple cũng đại tu Mac OS, chuyển sang nền tảng mới dựa trên Mach kernel và Unix BSD từ NeXTSTEP, tạo ra OS X, được công bố vào năm 2000 và chính thức phát hành 2001. Kết hợp với chiến dịch quảng cáo “Think Different” mang tính biểu tượng, Apple bắt đầu hành trình trở lại đầy ấn tượng.
Mac chuyển sang Intel (2005–2011)
Giai đoạn này, Apple vẫn tiếp tục gây ấn tượng với thiết kế đẹp mắt, rồi bất ngờ chuyển từ kiến trúc PowerPC sangIntelnăm 2005. Điều này giúp Mac có cấu hình tương tự PC Windows. Điều ngạc nhiên là mọi thứ vẫn vận hành tốt: người dùng vẫn mua Mac, và chúng còn nhanh hơn trước. Trong thập kỷ tiếp theo, khi laptop trở nên phổ biến, Apple chuyển trọng tâm sang thiết bị di động. iPod giúp Apple nổi tiếng hơn, rồi iPhone ra mắt vào năm 2007, iPad năm 2010 tiếp tục thay đổi cả ngành công nghệ.
Khi Apple “xa rời” người dùng chuyên nghiệp (2012–2019)
Dù thành công với iOS, Apple cũng bắt đầu có những thay đổi gây tranh cãi, qua đó phần nào làm mất đi một lượng người dùng Mac trung thành, đặc biệt là giới sáng tạo. Mac Pro 2013 dạng “thùng rác” là một ví dụ, sản phẩm này có thiết kế đẹp nhưng thiếu khả năng nâng cấp. Ngoài ra, Apple tiếp tục theo đuổi triết lý “mỏng và nhẹ”, loại bỏ nhiều cổng kết nối để chuyển sang USB-C.
Hơn nữa, các tính năng quan trọng như khe SD và cổng MagSafe bị loại bỏ. Touch Bar trênMacBook Progây nhiều tranh cãi vì thiếu phản hồi vật lý. Và đỉnh điểm của sự tồi tệ có lẽ là bàn phím Butterfly, mỏng nhưng dễ hỏng do bụi, khiến hàng nghìn người phải đi sửa nhiều lần. Mac ở thời điểm này vẫn tốt, nhưng nếu gọi là tuyệt vời thì có quá nhiều sự thay đổi gây ảnh hưởng đến trải nghiệm người dùng.
Kỷ nguyên Apple Silicon (2020–nay)
Và Apple bắt đầu sửa sai từ năm 2019 với Mac Pro mới dễ nâng cấp hơn. Đồng thời, hãng đưa lại bàn phím scissor, khe SD và loại bỏ Touch Bar, những thay đổi vốn gây tranh cãi lớn trước đó hoặc không hiệu quả. Và điều quan trọng nhất là họ từ bỏ kiến trúc của Intel, vốn khiến máy dễ nóng, chuyển sang chip riêng với dòng M1. Với kiến trúc ARM hiệu quả, Mac vừa mạnh mẽ vừa mát và tiết kiệm pin hơn nhiều so với Intel.
Ở thời điểm này, dòng Mac có lẽ đang ở trạng thái tốt nhất từ trước đến nay: MacBook Air và Pro dùng chip M5, Mac Studio mạnh mẽ, MacBook Neo đầy màu sắc, iMac thiết kế gọn nhẹ. Mac đang trải rộng dải sản phẩm của mình với phổ sử dụng đa dạng: từ học sinh, sinh viên đến nhân viên văn phòng, người làm nội dung hay những anh em thiết kế đồ hoạ, lập trình hay anh em làm AI, data cần cấu hình mạnh mẽ.
bnews/Anh Quân - Từ việc bật nhạc trên máy nghe nhạc cầm tay đến việc tự động hiện ảnh, nhiều người đang khám phá lại nét quyến rũ của những thiết bị cũ mà smartphone và ...